December 16, 2008


  • Bản dịch truyện ngắn A Christmas Memory

    Tác giả: Truman Capote

    Anonymouswish chuyển ngữ

     

    Sơ lược về tác giả:

     

    Truman Capote được sinh ra ở New Orleans, Louisiana ngày 30 tháng Chín năm 1924 và mất ngày 25 tháng Tám năm 1984.  Có khoảng 20 tác phẩm của Truman Capote đã được chuyển thành phim và kịch bản.  Tác phẩm được biết đến nhiều nhất là Breakfast at Tiffany, và Cold Blood.  Ông là bạn thân của Harper Lee, tác giả quyển How to Kill a Mockingbird và bà đã dùng ông làm người mẫu cho nhân vật Dill trong tác phẩm của bà.  Ông bắt đầu viết rất sớm.  Vào năm mười một tuổi ông đã chuyên chú viết ba giờ đồng hồ một ngày.  Khi ông được bốn tuổi, bố mẹ ông ly dị và mẹ ông gửi ông về Monroeville, Alabama ở với một người trong họ.  Đó là bà u già Rumbley Faulk. Truman thường gọi bà là Sook.  Ngày 25 tháng Tám, trước khi chết, những lời cuối cùng của ông là “Em là Buddy đây mà,” và “Em lạnh quá.”  Buddy là tên bà u già dùng để gọi Truman.

     

    Mùa Giáng Sinh trong ký ức

     

    Hãy tưởng tượng một buổi sáng vào cuối tháng Mười Một.  Một buổi sáng mùa đông của hơn hai mươi năm trước.  Hãy tưởng tượng căn bếp của một gian nhà cũ khá rộng ở miền quê.  Điểm chính của căn bếp là cái bếp lò màu đen rất to; và thêm vào đó là một cái bàn tròn, lò sưởi với hai cái ghế xích đặt trước mặt lò sưởi.  Và ngày hôm nay là ngày đầu tiên cái lò sưởi bắt đầu  lên tiếng gầm gừ chào mùa đông.

     

    Một người phụ nữ tóc trắng bóng đang đứng cạnh cửa sổ nhà bếp.  Bà mang giày đánh quần vợt, và một cái áo len màu xám đã nhão xệ đến mất cả hình dáng bên trên một cái áo Calico, có váy rộng loại mùa hè có hoa.  Bà nhỏ người và nhanh nhẹn như một con gà mái bantam, nhưng vì khi còn bé bà bị bệnh một thời gian rất lâu nên lưng bà bị còng trông rất tội nghiệp.  Gương mặt bà rất đặc biệt – có nét giống khuôn mặt của Lincoln, răn reo, khắc khổ, nhuộm nắng và gió, mỏng manh gầy, đôi mắt của bà có màu sherry và đầy vẻ nhút nhát.  “Xem kìa,” bà kêu lên, hơi thở của bà như khói phà trên khung kính của cửa sổ, “Đã đến lúc làm bánh trái cây!”

     

    Bà đang nói chuyện với tôi.  Tôi mới bảy tuổi còn bà chừng hơn sáu mươi.  Bà là chị họ xa của mẹ tôi, và chúng tôi sống chung với nhau – đã từ lâu trước khi tôi bắt đầu có trí nhớ.  Có nhiều người khác cũng ở chung nhà, cũng là họ hàng; và mặc dù họ rất có quyền hành đối với chúng tôi và hay bắt nạt làm chúng tôi khóc, chúng tôi không mấy để tâm chú ý đến họ.  Chúng tôi là bạn thân với nhau.  Bà gọi tôi là Buddy (Buddy cũng có nghĩa là bạn thân) để tưởng nhớ đến một chú bé trước đây đã là bạn thân của bà.  Cái người tên Buddy này đã chết lâu lắm rồi từ một năm nào đó trong những năm 1880, khi bà hãy còn là một cô bé.  Đến bây giờ bà vẫn là một cô bé.

     

    “U đã biết từ lúc trước khi u thức giấc,” bà nói, quay lưng rời cửa sổ với một vẻ thích thú đong đầy trong mắt.  “Tiếng chuông ở tòa án nghe rất lạnh và rất rõ.  Và không nghe tiếng hót của chim bởi vì chúng đã bay cả về miền đất ấm. Ồ, Buddy, đừng có ngốn bánh bich quy nữa đi lấy cái xe con bọ.  Và tìm hộ cho u cái mũ.  Chúng ta phải nướng ba mươi tấm bánh.”

     

    Năm nào cũng thế: khi một buổi sáng tháng Mười Một đến, bà bạn tôi, như thể việc tưởng tượng đến lễ mừng Giáng Sinh đã làm bà nổi hứng và châm dầu vào trái tim đang cháy bỏng của bà, tuyên bố: “Đã đến lúc làm bánh trái cây rồi, đi lấy cái xe con bọ, và tìm hộ u cái mũ.”

     

    Cái mũ đã được tìm thấy, đó là một cái nón rơm có vành có kết hoa hồng bằng nhung đã phai màu: cái mũ này trước kia thuộc về một người trong họ rất yêu thích thời trang.  Hai chúng tôi, cùng đẩy con bọ (chiếc xe dùng để đẩy em bé) đã cũ kỹ ọp ẹp, ra khỏi vườn và vào rừng pecan.  Cái con bọ này là của tôi, được dùng để đẩy tôi khi tôi mới sinh ra.  Nó làm bằng nan tre, đã bắt đầu bung mối, và các bánh xe đã ọp ẹp liêu xiêu như chân người say rượu.  Nhưng đây là một vật dụng rất trung thành; mùa xuân, chúng tôi đẩy nó vào trong rừng và chất đầy hoa, rau thơm, gia vị, và những cành dương xỉ dại để cắm vào bình hoa ngoài hàng hiên; mùa hè, chúng tôi chất đầy những đồ để đi picnic và những chiếc cần câu làm bằng cây mía tranh rồi đẩy nó đến tận bờ suối; mùa đông nó cũng được dùng: làm một chiếc xe tải chở củi đốt lò sưởi từ ngoài sân vào trong bếp, làm cái giường ấm áp cho Queenie, con chó đốm hai màu cam và trắng đã chịu đựng rất nhiều cơn nóng giận của người trong nhà và hai lần bị rắn rung chuông cắn.  Queenie đang chạy lon ton bên cạnh xe.

     

    Ba giờ đồng hồ sau chúng tôi trở lại bếp, kéo theo xe đầy những hạt pecan rụng vì gió.  Lưng chúng tôi mỏi nhừ vì lom khom nhặt chúng: rất khó tìm (bởi vì khi đến mùa chủ nhân đã cho rung cây và bán hạt, và chúng tôi không phải là chủ nhân) bởi vì chúng trốn dưới đám lá, bị đóng giá, và che lấp dưới cỏ đầy gian đối.  Rắc rắc, tiếng vỏ bị bóc nghe vui tai, những tiếng sấm nho nhỏ khi vỏ pecan bị vỡ và một đống hạt nhân màu ngà, có vị ngọt và béo chất đầy trong một cái tô bằng thủy tinh trắng đục như màu sữa.  Queenie cứ úng ắng đòi ăn và bạn tôi thỉnh thoảng nhón cho nó một miếng, mặc dù cứ nhất định bắt tôi và bà phải nhịn.  “Mình phải nhịn, Buddy.  Nếu chúng ta bắt đầu ăn chúng ta sẽ không thể nào ngừng lại.  Và từng chỗ này không đủ cho ba mươi cái bánh.”  Bóng tối dần dần tràn ngập căn bếp.  Hoàng hôn biến cửa sổ thành tấm gương: bóng chúng tôi phản chiếu kết hợp với vầng trăng đang lên khi chúng tôi làm việc bên cạnh lò sưởi nhờ vào ánh sáng của lò sưởi.  Cuối cùng, khi vầng trăng lên cao, chúng tôi ném cái vỏ cuối cùng vào trong lửa và, cùng với tiếng thở phào của chúng tôi, cái vỏ này bén lửa rồi cháy bùng lên.  Trong xe không còn hạt pecan nào, cái tô chứa ruột pecan đã đầy đến mép.

     

    Chúng tôi ăn tối bằng bánh bích quy nguội, thịt ba rọi muối lát mỏng chiên, và mức dâu đen và bàn chuyện ngày mai.  Ngày mai chúng tôi sẽ làm công việc mà tôi thích nhất: mua nguyên liệu.  Trái anh đào và chanh rừng, gừng, vanilla, thơm đóng hộp, da heo khô, nho khô, walnut, và rượu whiskey, và ô, rất nhiều bột, bơ, rất nhiều trứng, gia vị, bột mùi: tại sao, chúng tôi sẽ cần một con ngựa nhỏ để kéo con bọ về.

     

    Trước khi mua những thứ này chúng tôi cần  phải toan tính lấy đâu ra tiền.  Cả hai chúng tôi đều không có tiền. Thỉnh thoảng chúng tôi có một ít tiền do những người trong nhà thỉnh thoảng cho (mười xu đã là một món tiền lớn); hoặc là chúng tôi làm những việc lặt vặt để kiếm tiền: như bán đồ ve chai lặt vặt, bán những hộp dâu đen chúng tôi tự hái, vài lọ mứt trái cây làm bằng táo hay đào, hái hoa cho các nhà làm đám táng hay đám cưới.  Có một lần chúng tôi thắng giải 70 – 9, được năm đô la, trong một cuộc thi đá bóng toàn quốc.  Không phải là chúng tôi hiểu biết rất nhiều về bóng đá mà bởi vì chúng tôi hy vọng thu được tiền thắng giải vì thế chúng tôi tham dự bất cứ cuộc tranh tài nào mà chúng tôi nghe đến: bây giờ chúng tôi đang nhắm vào giải thưởng độc đắc năm chục ngàn đô la dành cho những ai có thể tìm ra một cái tên hay nhất cho một loại cà phê mới (chúng tôi đề nghị đặt tên là “A.M.”; và sau khi suy nghĩ, bạn tôi muốn tránh xúc phạm đến Chúa, nên khẩu hiệu dự giải được đổi thành “A. M.! Amen!”).

     

    Nói thật, chỉ có một việc làm mà chúng tôi đã thu được tiền, đó là thành lập một viện bảo tàng bỏ túi trưng bày điều Vui và chuyện Sợ ở sân sau nhà trong căn lều nhỏ bằng gỗ hai mùa hè trước đây.  Điều Vui là tập hợp những tấm ảnh của Washington và New York chúng tôi mượn của một người trong họ (và bà ấy đã rất giận khi biết chúng tôi dùng bộ ảnh này để làm gì), còn chuyện Sợ là chúng tôi có một con gà con có ba chân mới nở.  Mọi người nghe tiếng con gà con ba chân này và đòi xem.  Chúng tôi bắt người lớn phải trả năm xu, trẻ con phải trả hai xu.  Chúng tôi thu được hai chục đô la trước khi viện bảo tàng phải đóng cửa vì cái chết của nhân vật chính.

     

    Bằng cách này hay cách khác chúng tôi dành dụm tiền để dành cho quỹ Giáng sinh, quỹ Bánh trái cây.  Chúng tôi dấu tiền này trong một cái ví nhỏ có đính cườm dấu bên dưới một miếng gỗ có thể lắp vào hay tháo ra được dưới sàn gỗ, trong một cái lọ được dùng trong phòng, bên dưới giường của bà bạn tôi.  Cái ví cườm này rất ít khi nào được lấy ra khỏi vị trí an toàn ngoại trừ để cất tiền vào, hoặc là lấy tiền ra mỗi Thứ Bảy; bởi vì mỗi thứ Bảy tôi được cho mười xu để đi xem phim.  Bà bạn của tôi chưa bao giờ được đi xem phim, mà bà cũng chẳng muốn xem.  “U thích nghe em kể chuyện hơn, Buddy ạ.  Như thế u có thể tưởng tượng nhiều hơn.  Thêm vào đó, một người ở tuổi như u không nên hoang phí cái nhìn của mình.  Khi Chúa đến, u muốn được nhìn Ngài cho rõ.”  Ngoài việc chẳng bao giờ được xem phim, bà cũng chẳng bao giờ: ăn ở nhà hàng, đi đâu xa nhà hơn năm dặm, nhận hay gởi điện tín, đọc cái gì khác hơn chuyện vui cười và Kinh Thánh, dùng mỹ phẩm, chửi thề, rủa người ta, nói láo và để cho một con chó đói bị đói.  Còn đây là một số việc mà bà đã làm, bây giờ vẫn làm, dùng một cái xuổng đập chết một con rắn rung chuông lớn nhất ở tỉnh này (mười sáu khúc đuôi chuông), hút thuốc (lén), dạy chim hummingbird (thử thôi) cho đến khi nó đậu trên ngón tay của bà, kể chuyện ma (cả hai chúng tôi đều tin có ma) đáng sợ đến độ chúng tôi phát run trong trời tháng Bảy, nói chuyện một mình, đi bộ trong mưa, trồng hoa japonnicas đẹp nhất vùng, biết tất cả những bài thuốc trị bệnh linh nghiệm của người da đỏ, kể cả cái thuốc làm tiêu mụn cóc rất linh nghiệm.

     

    Bây giờ ăn tối đã xong, chúng tôi đi ngủ trong một góc rất hẻo lánh trong nhà, nơi bạn tôi ngủ dưới một tấm mền nối bằng những mẩu vải khác nhau trên một cái giường sắt sơn màu hồng của hoa hồng, màu bà thích nhất.  Lặng lẽ chìm đắm một cách thích thú của hai tên đồng lõa, chúng tôi lấy cái ví cườm từ chỗ dấu bí mật và trút tiền ra lên trên cái mền.  Những tờ đô la giấy được cuốn tròn có màu xanh như những đọt cây non tháng Năm.  Những đồng tiền năm mươi xu dịu dàng chất đủ nặng để neo cầu. Những đồng mười xu đáng yêu, là những đông tiền sinh động nhất, những đồng xu thật sự phát ra tiếng rủng rỉnh.  Đồng năm xu, đồng hai mươi lăm xu, mòn nhẵn như đá cuội trong suối.  Nhưng phần lớn, là một đống tiền một xu đáng ghét có mùi khó ngửi.  Mùa hè vừa qua, những người trong nhà đã thuê chúng tôi một xu nếu chúng tôi đập chết hai mươi lăm con ruồi.  Trời ạ, cái khốn khổ của tháng Tám: bầy ruồi bay lên thiên đàng!  Tuy thế đó không phải là công việc mà chúng tôi hãnh diện.  Và khi chúng tôi ngồi đếm tiền xu, chúng tôi có cảm tưởng chúng tôi đang đếm xác ruồi chết.  Không người nào trong chúng tôi giỏi về con số; chúng tôi đếm châm chậm, quên mất con số, đếm lại.  Theo con số của bà chúng tôi có $12.73.  Theo con số của tôi, chúng tôi có 13 đồng.  “Tôi hy vọng là em đếm sai, Buddy. Chúng ta không nên đùa với con số mười ba.  Mấy tấm bánh sẽ bị xẹp. Hay phải chôn một người nào đó vào nghĩa địa.  Tại sao, tôi không có ý định rời khỏi giường trong ngày mười ba.”  Điều này đúng sự thật: bà luôn luôn ở trên giường không đi đâu trong ngày mười ba.  Vì thế để cho an toàn, chúng tôi lấy ra một xu và ném ra ngoài của sổ.


  • It is snowing but not sticking. 

     

    I am going to have Christmas party on Thursday.  Each of us put in 7 dollars.  In the last few years each person paid 20 dollars.  This year we spent money for retirement parties; therefore, we want to cut back on Christmas party. 

    I have watched two movies based on Truman Capote’s novel and I like his style very much.  One of his short stories “A Christmas Story” is also very good for this time of the year.  As a gift for you who like to read Vietnamese, I translate the story.  It is ten-page long.  I am going to post it in three parts.  Enjoy.  Today is part 1.


  • Fragmentary Blue

     

    Why make so much of fragmentary blue

    In here and there a bird, or butterfly,

    Or flower, or wearing-stone, or open eye,

    When heaven presents in sheets the solid hue?

     

    Since earth is earth, perhaps, not heaven (as yet) –

    Though some savants make earth include the sky;

    And blue so far above us comes so high,

    It only gives our wish for blue a whet.

     

    Robert Frost

     

     

December 14, 2008


  • I wonder how you spend your Sunday. 

     

    I got up at five a.m. the same as my usual weekdays.  Put a DVD in and practiced tango.  Yeah, with a stick just like Richard Gere in Shall We Dance.  First with the walk T. A. N. GO and then with promenade and cortes and the rock.  My living room is tiny but I have a larger space in the basement.  Just basic steps.  You can learn and practice tango for a long time because there are so many steps and so many variations.  It is a beautiful dance, so sensous and artistic. I can watch tango and never get tired of.  It only increases my desire to learn.  After tango I practiced chacha.  Just doing some fast chacha instead of walking because it is quite cold this morning, around 20oF (equivalent to –6.7oC).  In the afternoon as I ironed my clothes I watched a very strange but very mind captivating movie “Perfume: the story of a murderer.”

     

    Jean Baptist Grenouille was born in a fish market.  His mother was so poor that she tried to dump him and because of that act she was hung.  He was raised in an orphanage.  Growing up he found out that he got a gift of scent.  He could detect many scents. He could memorize a scent and he was mesmerized by scents.  Going to the market one day he followed the scent of a young female plum peddler.  She was threatened by his weird behavior and in trying to stop her from screaming he choked her to death.  As she is dying, he detected her scent of virginal soul escaping from her body and became obsessed with that scent. 

     

    With his olfactory gift he became an assistant for a famous perfumer (played by Dustin Hoffman) and with him he learned how to distilled essence of flower to extract perfume.  His master unwittingly confirmed his belief that people’s scents are their souls. With his obsession with the fragrance of the plum salegirl, he started his killing spree.  His victims are all young female virgins.  He extracted their scents by wrapping their hair and body with animal fat and distilled the fat to extract their essence.  He then created a powerful fragrance that just a whip of the fragrance all people became ecstasic with the power of love.  They found love, felt love, made love and they were happy beyond any measures.  Even people who sentenced him to death for his crime mistook him for angel with that whip of his design fragrance.  But even with the power larger than wealth, or love, or death, he still could not find love or be able to love himself.  All the time he was obsessed by the plum salegirl whom he accidentally killed hence robbed her sublime beauty that was her essence.  He poured on himself all the remaining powerful potion that he created from the fragrance of all virgin souls, the crowd in the fish market where he was born was affected by the potion they practically devoured him.

     

    The film was good in the sense that it totally captured your attention but it was bad that it filled with gruesome images of murderous acts.  It was very strange in the way it combined beautiful things such as young and pretty women, beautiful flowers, and fragrance with such evil thoughts and actions.  I just could not accept the idea of from such evil acts that distilled such beautiful and powerful fragrance that could bing ecstasy of love to mankind.  It is such an illogical logic, however, such out of the box thinking can be seen as great creativity.

     

     

  • 001a

    Amaryllis

    004

    New Dawn

    007

    I was trying to capture the rising sun.  Badly done.

     

December 13, 2008


  • Thanks so much for your encouragement.  Xanga community is so much kinder than people I have contacted with in person.  You probably can’t imagine my frustration every time I start to write and can’t find a proper word or I am not sure what proper tense to use or what preposition to go with certain nounces or certain verbs, or when I can use at or in or on or upon.  But you show your support and  kindness so here I am writing English again, with scars, warts and all.  Perhaps I should remind myself I write because I am learning to write and because If I do not write I will never write better.

     

    For a few days I did not have internet connection.  Understandably, I was irritable  Listening to a song and wondering who is its author I want to google and realize that I can’t do that.  You can imagine my frustration.  Without the internet, I find that I am limited so much.  I can write a little something but when I am in doubt I cannot research to verify.  But thanks goodness, someone reset and I have internet connection again.  Anyone who is able to help me with computer I think is a genius. 

     

    I finish Lesson in Disaster: the Path to War in Vietnam of McGeorge Bundy, word for word.  There are certain pages and paragraphs I reread.  I will wait for the book is on sale and will buy it to keep.  I like to write a review about the book.  I need to have it so I can make notes when I reread.  I find it is hard to read without writing notes on the book.  Someone will not like to see people deface a book, like Oscar Wao, but I always write on “my” books, my thoughts, feeling, judgments, meaning, or just a reminder that I need to read something else to clarify what I had read.  I read most of the books I borrowed from my library two weeks ago, except The Audacity of Hope.  I did not find that it engaged my thought.  I was captured by the Precident-elect’s victory speech and an excerpt of The dreams from my father but the Audacity of Hope seems to speak to different school of thoughts.  Perhaps it is more interesting to people who is interested in politics than I.  I did not finish Breakfast at Tiffany or The Painted Veil, perhaps because I already watched the movies I lost curiosity to find how the events unfolded.

     

    I often avoid politics and history eventhough I know that will make me look dull and simple minded.  I avoid reading anything involved Vietnam War or even watch movies that are remotely related to the War.  Simply because it hurts.  But recently, I am able taking small steps toward learning the subject.  The Lesson in Disaster is the first book about the War that I am able to read, and I read from end to end.  It is a great book.  The author, Goldstein, is writing in clear and simple language, and a very objective tone.  It answers a few questions of mine such as: Why did Americans involve in this War?  To stop the expansion of communism.  Did Americans lose the War as Vietnamse claimed?  To American government, if they could not stop the insurgency that was a loss.  Did they fake the proof that Vietnamese started the fight? Yes, they did.  Although everyone pointed fingers toward the late Mr. Bundy who admitted that he was making mistakes in judgment and execution, the book also pointed out that the Joint of Chiefs, the Defense Department also had a share. 

     

     

December 11, 2008


  • I am contemplating to give up writing in English.  I will just keep the blog to read and comment in English but to write in Vietnamese only.  I will never master the language.

     

December 10, 2008


  • Đi làm bằng xe lửa tôi vẫn thường hay gặp những cặp tình nhân.  Tuy nhiên mấy lúc gần đây tôi không thấy họ.  Có lẽ trời lạnh và mau tối hay tại vì tôi lúc nào cũng chập chờn trong cơn buồn ngủ nên chẳng nhìn thấy ai.

     

    Sáng nay lúc xuống xe lửa đi băng qua concourse để đến building tôi làm việc tôi gặp lại cặp tình nhân mà tôi đã có lần kể.  Cô ấy là người béo phì còn người bạn trai thì cao và vừa người.  Hai người luôn đi bên nhau và nắm tay nhau rất âu yếm.  Tôi chưa lần nào nhìn thấy mặt của cả hai chỉ nhìn thấy sau lưng họ.  Anh ta hói đầu nên đã cạo tóc láng bóng.  Lúc tôi đi câu thang cuốn tôi đứng phía sau trên cao nên nhìn thấy hai người đã gần xuống đến mặt đất. Anh bạn trai của cô gái ấy đứng phía trước, cô ấy đứng phía sau vò cái đầu láng trọc của anh ta.  Rất âu yếm.  Dễ thương.

     

     


  • It is unusually warm today.  It is raining lightly but there is no need for gloves or hat or scarf.  Many people even take off their coats.  On the wet streets the Christmas lights shine upon.

     

    On the train ride home I see the spruce at West station has been adorned with white lights.  So has the tree at Fan Station.  The streets I take from my station to go home everyday and the neighborhood all decorated with Christmas lights.  All the twinkling stars are hanging in many pretty ways on the trees, on the hedges, and the bushes in front of many houses.  Christmas is coming with its magical air again.   

    On Black Friday when a man scaled down the door and that led to some people trampled a man to death, someone who is living in Canada commented that people who live in the United States stomp on each other to make money and to spend money.  Although I feel disheartening when that incident happened I think Americans are good hearted people and that generalized comment is invalid.  That is so rude and ignorant of him to say that.  My belief in people's goodness is restored when I read on yahoo news that someone was going around to distribute money at the mall to people who looked like they really needed a boost.  There was a picture of two young women whose face were wet with tear when a woman handed one of them two hundred dollars with a condition that she had to do something nice for her family.  Just like anywhere in the world there is always goodness as well as evil spirit.

     

December 1, 2008


  • Buổi chiều ngồi xếp quần áo tôi xem phim The Painted Veil.  Đây là một phim rất hay, ngoài dự đoán của tôi.  Trong các loại phim diễm tình tôi mới vừa xem, đây là phim có cốt truyện hay nhất.  Hay hơn The Notebook và hay hơn Stranger than Fiction.  Sau khi xem phim xong thấy trên hộp đựng DVD cuốn phim này dựa vào truyện của Somerset Maugham, nhà viết tiểu thuyết tình cảm đại tài.  Tôi lần qua Guttenberg để xem có free down load truyện này hay không nhưng rất tiếc, ở website này có rất nhiều sách của Maugham nhưng không có quyển này.  Tôi lần qua thư viện địa phương thì rất may họ có.

     

    Xem xong phim tôi không vẫn không hiểu tại sao phim có nhan đề là The painted Veil.  Tựa đề này lấy từ câu thơ đầu tiên trong một bài sonnet của Percy Bysshe Shelly “Lift not the painted veil which those who live call Life.”  Có nghĩa là: đừng nâng tấm mạng che mặt có vẽ tranh lên.  Đó là cái mà những người đang sống gọi là cuộc đời.”  Tôi không hiểu rõ nghĩa câu thơ này.  Tấm mạng này che dấu cuộc đời của những người ẩn núp đằng sau nó?  Hay những tấm mạng che mặt này là cuộc đời của những người dối trá.  Hay tất cả chúng ta đều có một con người thật đằng sau tấm mặt nạ vẽ vời kia? 

     

    Truyện phim như sau:

     

    Kitty đã đến tuổi lập gia đình nhưng cô không thể nào tưởng tượng được sẽ lấy một người chồng mà cô không yêu.  Ở một buổi tiệc cô gặp bác sĩ Walter Fane là một chuyên viên khảo cứu vi trùng học.  Walter sắp nhậm chức ở Shanghai và ngỏ ý xin cưới Kitty.  Vì mới quen và chưa yêu Kitty không muốn nhận lời nhưng cô tình cờ nghe mẹ mình than phiền là bà chỉ hy vọng gả đứa con gái thứ nhì tên là Doris cho Walter chứ bà xem như Kitty đã quá tuổi lập gia đình.  Giận mẹ nghĩ xấu về mình, Kitty nhận lời Walter và đi theo chồng.  Ở Shangai Kitty trở nên buồn chán vì nhớ đời sống thành thị và những tiệc vui khiêu vũ.  Walter tuy rất yêu Kitty nhưng rất đam mê với công việc và rất vụng về trong việc bày tỏ cảm tình.  Kitty gặp cặp vợ chồng của Charles Townsend.  Trong một buổi đi xem biễu diễn tuồng cổ Trung Hoa Charles đã giải thích vở tuồng như sau:

     

    Mỗi một cử chỉ đều có ý nghĩa.  Xem cách cô ta che mặt bằng tấm khăn.  Cô ấy đang kêu khóc cho số phận của mình.

     

    Cô ấy bị chuyện gì thế?

     

    Cô ta bị bán làm nô lệ.  Bị bắt phải sống một cuộc đời làm việc nặng nhọc và đầy tuyệt vọng, ở một quốc gia xa lạ.  Thấy những sợi xiềng không?  Tượng trưng cho sự ràng buộc nặng nề của một linh hồn đáng tội nghiệp bị giam cầm mà không có lối thoát.  Và vì thế mà cô ta khóc than.  Cô ta khóc than cho mình đã mất một thời tuổi trẻ sinh động và cô trở thành một phụ nữ đơn độc.  Và trên tất cả cô khóc vì không bao giờ được yêu hay yêu người.

     

    Kitty hỏi Charles đó có phải là sự thật không và anh trả lời với một vẻ mặt nghiêm trang rằng anh không biết tiếng Trung Hoa, những lời giải thích anh vừa nói chỉ là chuyện anh tưởng tượng.  Kitty bật cười trước sự duyên dáng thông minh của anh ta và không lâu sau cô đem lòng yêu Charles và đi đến chỗ ngoại tình.

     

    Walter phát giác tội lỗi của vợ, anh bắt Kitty phải đi theo anh vào một làng trong núi nơi bệnh dịch tả đang hoành hành dữ dội đã giết rất nhiều người để trừng phạt nàng.  Nếu nàng không vâng lời anh sẽ bêu xấu, làm nhục.  Khi Kitty năn nỉ anh xiêu lòng đồng ý tha cho nàng nếu Charles đồng ý ly dị vợ và cưới Kitty.  Khi ra điều kiện này Walter đã biết trước Charles sẽ không bao giờ ưng thuận vì anh có tiếng đểu giả với nhiều phụ nữ.  Kitty cuối cùng ưng thuận sự trừng phạt này nhưng nàng trách cứ Walter là tuy biết Kitty không yêu mình mà vẫn cứ lấy nàng làm vợ ành cũng có phần trách nhiệm trong sự đỗ vỡ của hai người.  Walter lý luận là anh đã hy vọng khi hai người thành vợ chồng anh sẽ có thì giờ để chinh phục trái tim của Kitty.

     

    Ở giữa chốn hẻo lánh Kitty ở gần một người Anh có tên là Waddington.  Trong phim Waddington là một người đàn ông thấp lùn, xấu xí có người tình người Trung hoa rất xinh đẹp.  Waddington có vẻ rất quý trọng Walter.  Walter lao vào công việc giúp người bệnh dịch tả và các trẻ em trong viện mồ côi cũng như các vị nữ tu đều rất yêu mến Walter.  Dần dần Walter tha thứ cho vợ vì Kitty chỉ là một người bình thường với những lỗi lầm và Cả hai nên chú ý những đức tính mà người hôn phối của mình thật sự có, thay vì đi tìm những thứ mà họ không có.  Tuy là vợ chồng nhưng vì bất hòa nên hai người không làm tình đã lâu.  Có một đêm tình cờ bắt gặp Waddington làm tình với người tình của ông ta làm khơi dậy thèm muốn trong cả Walter lẫn Kitty, nên hai người yêu nhau lần đầu thật cuồng nhiệt.  Cũng xin nói thêm ở đây về cuộc tình của Waddington với cô nàng người Trung Hoa xinh đẹp là tuy hai người rất khác biệt về thể chất, Waddington xấu xí còn cô người tình xinh đẹp, Waddington có học thức và địa vị trong khi cô người tình là con của người giúp việc và trở nên mồ côi sau khi cả gia đình bị giết chết vì chiến tranh và bệnh tật, nhưng họ thậnt sự yêu nhau và tình yêu của hai người đầy nhục cảm.  Chính nhờ vào nhìn thấy một tình yêu chân chính vượt qua những điều va chạm nhỏ nhen của cuộc đời của cặp tình nhân này mà Kitty thay đổi những thành kiến ban đầu về tình yêu với Walter.  Sau đó Kitty phát giác mình có thai.  Tuy biết Walter rất muốn có con nhưng Kitty không muốn dối chồng vì đứa nhỏ không phải là con của Walter.

     

    Walter bắt đầu ngăn chặn được bệnh dịch tả.  Sự tận tụy của anh đã chinh phục được cảm tình của người trong làng kể cả những quan chức ngay từ đầu không có thiện cảm với anh.  Vì cấm dân làng không được dùng nước giếng và nước sông, dân làng suýt nổi loạn vì không có nước.  Nhưng Walter thương thuyết với vị warlord ở địa phương dẫn nước trên nguồn về cho dân dùng.  Tưởng bệnh dịch được chận đứng nhưng dân địa phương ở những nơi khác chạy trốn bệnh dịch ùa vào làng và lần này Walter bị nhiễm bệnh.  Vì thiếu thuốc nên anh qua đời.

     

    Trong phim ở đoạn cuối cho thấy Kitty dẫn con đi trên đường phố London gặp lại Charles Townsend nhưng cô dẫn con đi không muốn nấn ná trò chuyện với Charles.

     

    Nếu tình yêu trong The Notebook hai người yêu nhau phải xa nhau vì nghịch cảnh từ bên ngoài, thì tình yêu trong The Painted Veil tối tăm hơn đau xót phẫn hận hơn.  Cặp tình nhân này đối diện với sự ghét bỏ thù hận oán trách trong lòng họ.  Chỉ sau khi tha thứ và sống một cuộc đời vị tha họ mới tìm được tình yêu dù đã quá muộn màng.  Trước khi chết Walter xin Kitty tha thứ cho mình vì anh đã vì lòng thù hận muốn trừng phạt nàng mà mang nàng đến chỗ chết.  Kitty nắm tay chồng khóc ngất và nói mình tha thứ cho Walter.

     

    Phim có những đoạn rất giàu suy nghĩ.  Walter cho rằng tất cả mọi người sống là vì mình vì sự ích kỷ của chính loài người.  Ngay cả các vị nữ tu đã nuôi trẻ mồ côi Walter cho rằng cái lòng tốt của các vị nữ tu chỉ là vì họ muốn truyền đạo, tất cả những đứa bé kia sẽ là những người theo Thiên chúa bé con.  Còn vị nữ tu không biết sự bất hòa của hai vợ chồng Walter vaf Kitty, nên khi nghe Kitty nói rằng mình đến chỗ hoang vắng này là vì đây là bổn phận của người vợ bà hơi ngạc nhiên.  Thường thì người ta theo chồng vì tình yêu hơn là nhiệm vụ.  Bà nói “Chúa là người yêu đầu tiên của tôi.  Đôi khi Chúa bỏ quên tôi, phụ bạc tôi nhưng tôi vẫn yêu Chúa.”  Bà nói thêm sau đó nếu trong lòng chúng ta bên cạnh nhiệm vụ với người hôn phối còn có tình yêu thì đó là điều duyên dáng cao quí nhất mà trời đất ban tặng chúng ta.

     

    Phim hơi khác tiểu thuyết ở chỗ là trong truyện, khi Kitty trở về Shanghai cô tình cờ gặp vợ của Charles.  Bà vợ này cương quyết kéo Kitty về ở nhà mình vì cho rằng Kitty đã hy sinh theo chồng để phục vụ nhưng chồng mất và cô đáng được kính trọng.  Tuy nhiên Charles lại quyến rủ Kitty và cô cuối cùng mắng hắn ta và theo bố của mình đi phục vụ ở một xứ xa để nuôi con tránh cạm dỗ của cuộc đời hiện tại.